Login
Được tạo bởi Blogger.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu Chuyện Toán Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu Chuyện Toán Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

GS Ngô Bảo Châu: Toán học là môn khoa học gần gũi nhất với con người

Câu Lạc Bộ Toán Dự Bị Việt Trì     06:07    

VTV.vn - Những thắc mắc của các bạn trẻ tham dự buổi giao lưu tại L’Espace với sự góp mặt của Giáo sư Ngô Bảo Châu và Giáo sư Cesdric Villani đã được giải đáp cặn kẽ.

Chiều 24/8, tại Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace đã diễn ra buổi gặp gỡ giữa giáo sư Ngô Bảo Châu, Giáo sư Cesdric Villani với các bạn trẻ yêu toán học.
Giáo sư Cesdric Villani hiện là Giám đốc Học viện Henry Poincaré và là giáo sư Trường Đại học Lyon 1. Ông nghiên cứu các phương trình vật lý thống kê mô tả trạng thái thống kê của các phân tử khí và plasma. Bên cạnh chuyên gia người Pháp, giáo sư Ngô Bảo Châu cũng tham dự và cùng giao lưu, chia sẻ câu chuyện về bộ môn Toán học. Hiện thiên tài toán học Việt Nam đang làm việc tại Viện Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp CNRS và Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, là giáo sư Đại học Chicago, Chủ tịch Hội đồng Khoa học tại Viện nghiên cứu cao cấp về Toán của Việt Nam.
Giáo sư Ngô Bảo Châu và Giáo sư Cédric Villani đã có cuộc gặp gỡ rất thân mật và cởi mở để đưa toán học đến gần hơn với công chúng.
Giáo sư Ngô Bảo Châu và Giáo sư Cédric Villani đã có cuộc gặp gỡ rất thân mật và cởi mở để đưa toán học đến gần hơn với công chúng.
Buổi gặp gỡ trở nên sôi nổi khi hai vị giáo sư nhiệt tình chia sẻ những kinh nghiệm và kỉ niệm đáng nhớ khi giải quyết những mệnh đề và đưa ra các định lý. Các bạn trẻ tham dự buổi giao lưu cũng hào hứng đưa ra những câu hỏi về Toán học và được hai vị khách mời giải đáp cặn kẽ.
Buổi giao lưu cùng hai nhà Toán học nổi tiếng thế giới cùng đoạt hai Huy chương Toán học Fields năm 2010 thu hút rất đông các bạn trẻ đến tham dự. Cuộc trò chuyện trở nên gần gũi hơn khi hai vị giáo sư cùng chia sẻ những câu chuyện, con đường đi đến niềm đam mê toán học của mình.
Buổi gặp gỡ được rất nhiều tầng lớp công chúng quan tâm.
Buổi gặp gỡ được rất nhiều tầng lớp công chúng quan tâm.
Giáo sư Ngô Bảo Châu chia sẻ: "Toán học ngày nay đã khác rất nhiều so với ngày xưa, dù bộ môn này không gần gũi như các môn khoa học khác như Vật lý, nhưng các công nghệ hiện nay như smartphone, internet lại chính là bộ mặt của Toán học. Ngoài ra, hai lĩnh vực lớn đó là quốc phòng hay kinh tế cũng không thể có thành tựu nếu không có Toán học". Cũng theo giáo sư Ngô Bảo Châu, Toán học có lẽ là môn khoa học gần gũi nhất với con người, bởi mục tiêu của Toán học đó là giải quyết các vấn đề xung quanh cuộc sống.
Trong lúc giải đáp những thắc mắc của các bạn trẻ, giáo sư Cédric Villani nhận định độ tuổi 12, 13 chính là thời điểm quyết định để Toán học gây ấn tượng và ham mê với trẻ nhỏ. Ông cũng nói lên sự trăn trở làm sao để Toán học được ứng dụng trong các mặt của đời sống như công nghệ và nâng cao Toán lên tầm văn hóa.
Cùng suy nghĩ như Cédric Villani, giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết, hiện ở Quy Nhơn đang có dự án xây dựng bảo tàng khoa học, trong đó sẽ có không gian riêng dành cho Toán học. Giáo sư cũng nêu quan điểm về Toán học và đời sống, ông cho rằng mọi thứ đều có liên hệ với nhau.
Mặc dù còn rất nhiều thắc mắc của các bạn trẻ chưa được giải đáp nhưng mục tiêu truyền lửa, chia sẻ đam mê của buổi gặp gỡ đã được hai giáo sư Ngô Bào Châu và Cesdric Villani chạm đến được các bạn trẻ cũng như những người có mặt tại buổi giao lưu.
Nguồn: http://vtv.vn/

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Giáo sư Ngô Bảo Châu

Câu Lạc Bộ Toán Dự Bị Việt Trì     00:51    
GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội, là con duy nhất của GS TSKH Ngô Huy Cẩn, chuyên gia hàng đầu về cơ học và PGS TS Trần Lưu Vân Hiền. Anh từng học tại trường thực nghiệm Giảng Võ, trước khi vào khối chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội).
Năm 1988, Bảo Châu tham dự kỳ thi Olympic Toán quốc tế tại Australia và giành huy chương Vàng. Năm sau, anh tiếp tục giành huy chương vàng Olympic Toán quốc tế tại Đức. Cũng trong năm 1989, anh sang Pháp học tại ĐH Paris 6 và bảo vệ luận án tiến sĩ khi mới 25 tuổi tại ĐH Sư phạm Paris - ngôi trường danh tiếng bậc nhất nước Pháp. Năm 2003, ở tuổi 31, anh hoàn thành luận án habilitation (tương đương tiến sĩ khoa học) tại ĐH Paris 11 và đầu năm sau trở thành giáo sư của đại học này.
Năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm giáo sư và trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất Việt Nam. Năm 2007, sau khi chứng minh được “Bổ đề cơ bản”, một giả thuyết then chốt của Chương trình Langlands, anh được trao Giải thưởng Oberwolfach của Đức, Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.
Từ năm 2007 đến nay, GS Ngô Bảo Châu trở thành giáo sư đặc biệt tại Viện Toán học Việt Nam và tháng 9 tới, GS Ngô Bảo Châu sẽ bắt đầu làm việc tại khoa Toán ĐH Chicago (Mỹ).
Đầu tháng 8, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã mời Ngô Bảo Châu về Việt Nam công tác và đóng góp cho chương trình nhằm đưa nước ta trở thành cường quốc về Toán. Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020, với tâm điểm là xây dựng Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán.
Ngày 19/8/2010 tại lễ khai mạc Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ, bà Pratibha Patil - Tổng thống Ấn Độ đã trao huy chương Fields - giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực toán học cho GS Ngô Bảo Châu.
Đây là niềm tự hào của người Việt Nam nói chung, của thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng, khi trí tuệ Việt vươn lên đỉnh cao của khoa học nhân loại và được khẳng định trên trường quốc tế.

Bà Pratibha Patil - Tổng thống Ấn Độ trao huy chương Fields - giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới cho GS Ngô Bảo Châu.
Khi Đại hội Toán học thế  giới vừa xướng tên GS Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields, những người có mặt như vỡ òa ra trong niềm vui khôn tả, tự hào vì người Việt Nam đã chinh phục được đỉnh cao của nền khoa học nhân loại.
Đằng sau sự thành công trong khoa học của GS Ngô Bảo Châu là sự đóng góp lớn lao, âm thầm của mẹ anh PGS.TS Trần Lưu Vân Hiền. Bà đã từng tâm sự với báo chí rằng: "Bổ đề cơ bản" là người bạn thân thiết của Châu suốt 15 năm qua, nhưng khi Châu chứng minh được bổ đề này thì nó lại là của mọi người, không còn là của riêng Châu nữa. Cô cũng vậy, mừng cho con nhưng thấy lòng một chút hụt hẫng, trống trải, Châu được nhiều người biết đến thì cảm giác không thuộc về riêng mình nữa"
GS Ngô Bảo Châu
Giải thưởng Fields được như Giải thưởng Nobel trong Toán học, bởi vì theo di chúc từ năm 1901 của người sáng lập Thụy Điển A. Nobel, Giải thưởng Nobel không dành cho Toán học. Thế nhưng Giải thưởng Fields lại chỉ được trao cho những thiên tài toán học phát lộ sớm, vì điều kiện tiên quyết của nó là chỉ trao cho những người không quá 40 tuổi vào năm trao giải.
Cứ bốn năm một lần, Giải thưởng Fields được trao tại các kì Đại hội Toán học thế giới và mỗi lần có không quá  4 người được nhận. Như vậy, tính bình quân, mỗi năm có tối đa một người được nhận Giải thưởng Fields. 
Trong 70 năm qua, 1936 - 2006, cả thế giới có tất cả 48 nhà toán học được trao Giải thưởng Fields. Mới chỉ có 11 nước vinh dự có  công dân của mình đạt Giải thưởng Fields. Đó là: Mỹ, Pháp, Nga, Anh, Nhật, Phần Lan, Italia, Thụy Điển, Đức, New Zealand và Úc, trong đó chỉ có 3 người có quốc tịch châu Á, đều là người Nhật và có hai người gốc Hong Kong - Trung Quốc là  Shing-Tung Yau (quốc tịch Mỹ ) và Terence Tao (quốc tịch Úc) đã được trao Giải thưởng Fields

Thần đồng toán học Terence Tao

Câu Lạc Bộ Toán Dự Bị Việt Trì     00:42    
2 tuổi Terence Tao đã dạy toán và tiếng Anh cho cậu bé 5 tuổi. 13 tuổi, anh là người trẻ nhất cho đến nay giành huy chương vàng trong lịch sử các kỳ thi toán quốc tế. Năm 1992, khi mới 20 tuổi, anh nhận bằng tiến sĩ toán học.
Theo thông báo của Hội Toán học Mỹ số tháng 5/2010, Terence Tao (người Australia gốc Hoa) và Enrico Bombieri (người Italia) cùng được trao giải thưởng năm 2010 của Quỹ Vua Faisal với số tiền thưởng chung xấp xỉ 200.000 USD. Giải thưởng khoa học này luân phiên dành cho các lĩnh vực toán học, hóa học, vật lý và sinh học.
Cả hai nhà toán học này trước đó đều đã được trao giải thưởng Fields, giải thưởng cao quý nhất trên thế giới dành cho các nhà toán học đặc biệt xuất sắc chưa quá tuổi 40 (người ta thường ví như giải Nobel dành cho toán học).
Thần đồng Toán học Terence Tao
Terence Tao đã bộc lộ năng lực toán học đặc biệt từ khi còn nhỏ và vì thế người ta gọi anh là thần đồng toán học, còn giáo sư John Garnett của ĐH Los Angeles, California (Mỹ) thì gọi anh là “Mozart của toán học”.
Sinh ngày 17/7/1975 tại Adelaide (Australia), bố mẹ đều là người Hoa, nhập cư từ Hong Kong vào Australia. Bố là bác sĩ nhi khoa, mẹ nhận bằng cử nhân tại ĐH Hong Kong và từng là giáo viên toán bậc trung học phổ thông.
Bố anh kể nhờ xem các chương trình truyền hình Sesame Street, Tao biết số và chữ. Trong một cuộc gặp mặt gia đình khi mới 2 tuổi, Tao đã dạy toán và tiếng Anh cho một cậu bé 5 tuổi.
Nữ giáo sư Miraca Gross, một chuyên gia nghiên cứu về giáo dục tài năng tại ĐH New South Wales (Australia), đã viết hẳn một bản luận văn về Tao. Trong đó bà nhắc lại một kỷ niệm đáng nhớ của Tao khi chưa đầy 4 tuổi: “Cậu bé làm nhẩm trong đầu phép tính nhân các số có 2 chữ số, trong khi tôi một người đến để phỏng vấn cậu ấy, lại cần đến bút và giấy để kiểm tra lại kết quả".
Bố của Terence Tao, ông Billy Tao, nói: “Nếu bạn chỉ nhanh chóng đi lên như một cái cột thì chắc chắn sẽ bị lung lay ở trên đỉnh và rồi đổ sụp xuống. Tôi có một mô hình kim tự tháp tri thức, với một cái nền rộng và sau đó kim tự tháp có thể lên cao hơn". Và Billy Tao đã sắp xếp cho các giáo sư toán học làm thầy dạy con mình. Nhờ đó mà Terence Tao đã có một sự nghiệp tuyệt vời.
Khi lên 8 tuổi Tao đã đạt 760 (trên 800) điểm môn Toán khi thi SAT và là một trong hai đứa trẻ duy nhất đạt trên 700 điểm trong lịch sử của chương trình nghiên cứu tài năng đặc biệt của Johns Hopkins. Từ năm lên 9 tuổi anh đã theo học các bài giảng toán học ở bậc đại học.
Năm 1986, khi mới 10 tuổi, lần đầu tiên anh đã tham dự kỳ thi vô địch toán quốc tế (IMO) và liên tục trong 3 năm 1986-1988 anh đều tham gia cuộc thi toán nổi tiếng nhất thế giới này dành cho học sinh trung học phổ thông xuất sắc, giành được huy chương đồng, bạc và vàng.
Năm 13 tuổi, anh là người trẻ nhất cho đến nay giành huy chương vàng trong lịch sử IMO. Tao tốt nghiệp đại học, nhận bằng thạc sĩ tại ĐH Flinders (Australia) năm 17 tuổi. Năm 1992 anh giành được học bổng Fulbright để làm nghiên cứu sinh tại ĐH Princeton (Mỹ) và nhận bằng tiến sĩ khi mới 20 tuổi. Năm 24 tuổi anh được phong giáo sư thực thụ (full professor) của ĐH Los Angeles và là giáo sư trẻ nhất trong lịch sử của trường đại học này cho đến nay.
Tạp chí NewScientist ngày 22/8/2006 viết Terence Tao là nhà toán học trẻ nổi tiếng đến mức mà nhiều nhà toán học trên thế giới đều muốn lôi cuốn anh về bài toán của mình và anh trở thành một trong những ông thợ giải toán hợp tác đắc lực với các đồng nghiệp trên thế giới. Giáo sư C. L. Fefferman, người được nhận giải thưởng Fields, nói: “Nếu bạn bị bế tắc trong một bài toán, một trong những cách giải quyết là tìm cách lôi cuốn Terence Tao".
Anh nghiên cứu nhiều lĩnh vực của toán học như giải tích điều hòa, phương trình vi phân đạo hàm riêng, tổ hợp, lý thuyết số, xử lý tín hiệu. Năm 2004, Ben Green và Terence Tao công bố một tiền ấn phẩm chứng minh sự tồn tại của cấp số cộng có độ dài bất kỳ của các số nguyên tố và nhờ đó anh được trao huy chương của Hội Toán học Australia
Năm 2006, khi mới 31 tuổi, tại đại hội toán học quốc tế lần thứ 25 ở Madrid, anh là một trong những người trẻ nhất, người Australia đầu tiên và là giáo sư đầu tiên của ĐH Los Angeles giành được giải thưởng Fields vì những đóng góp to lớn của anh cho lý thuyết phương trình đạo hàm riêng, tổ hợp, giải tích điều hòa và lý thuyết số cộng tích.
Tao hiện là viện sĩ của Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Anh, Viện Hàn lâm khoa học Australia, Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Mỹ... Terence Tao đang sống với vợ người Hàn Quốc Laura Kim Tao và con trai William Kim Tao tại Los Angeles (Mỹ).
Điều lý thú là giáo sư Vũ Hà Văn, học sinh chuyên Toán Trường THPT Chu Văn An (Hà Nội), là một người bạn thân của Terence Tao. Hai người đã cùng công bố 15 bài báo khoa học và cuốn sách chuyên khảo Additive Combinatorics (Tổ hợp cộng tính) được giới toán học đánh giá cao. Giáo sư Vũ Hà Văn sinh tại Hà Nội năm 1970 và là con của nhà thơ Vũ Quần Phương.
Vũ Hà Văn được phong giáo sư của ĐH Rutgers (Mỹ), được trao giải thưởng cao quý Polya của Hội Toán học công nghiệp và ứng dụng Mỹ (SIAM) và được phong giáo sư Việt Nam năm 2009.
Nguồn: http://vnexpress.net/

GS Vũ Hà Văn: Làm toán để hạnh phúc

Câu Lạc Bộ Toán Dự Bị Việt Trì     00:37    
Con trai nhà thơ đi làm toán
Trước khi được biết đến như một nhà toán học xuất sắc bậc nhất của Việt Nam hiện nay, Vũ Hà Văn được biết đến với tư cách là con trai nhà thơ Vũ Quần Phương. Bản thân Vũ Hà Văn cũng rất hâm mộ bố mình, thuộc nhiều thơ của bố, dù anh cho biết mình không thích đọc thơ bằng đọc văn xuôi!
“Tuy nhiên, nhờ có một người bố là nhà thơ mà trong nhà tôi đầy sách văn học, những người đến chơi nhà anh cũng toàn là bạn văn chương với bố. Sống trong một môi trường như thế, tôi cảm thấy trí tưởng tượng của mình được phát triển và điều này rất tốt cho tư duy toán học sau này của tôi”, Vũ Hà Văn nhận xét.
GS Vũ Hà Văn

Vũ Hà Văn được học chuyên toán từ nhỏ. Lên THPT, thoạt tiên anh học chuyên toán Chu Văn An (Hà Nội). Sau đó, Hà Nội mở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam, Vũ Hà Văn được chuyển về đấy. Anh yêu toán, nhưng rồi chỉ đoạt giải nhì kỳ thi học sinh giỏi quốc gia nên cũng không dám đặt nhiều ước vọng vào toán. Khi thi ĐH, Vũ Hà Văn chọn ngành kỹ thuật với mong muốn trở thành người… sửa TV. Nhưng số phận kéo Vũ Hà Văn quay lại với toán khi anh được nhà nước cử sang Hungari học ĐH.
Vũ Hà Văn kể, khi mới sang Hungari học ở Khoa Điện ĐH Bách khoa Budapes, anh được học với một bà giáo dạy toán hay ra các đề tài nghiên cứu nho nhỏ cho sinh viên. Lúc đó anh vẫn mê toán lắm nên rất hào hứng với các đề tài nhiên cứu ấy. Thậm chí, biết trường ĐH Tổng hợp Eotvos Lorand (Budapest)tổ chức một cuộc thi toán cho sinh viên, anh đã tham gia. Giải thưởng Vũ Hà Văn đạt được tuy không cao nhưng cũng là một kết quả đáng khích lệ với sinh viên không phải ngành toán. Thấy Vũ Hà Văn mê toán, bà giáo dạy toán của anh giới thiệu anh với chồng bà - một nhà toán học và là một viện sĩ rất có tiếng tăm ở Hungari. Ông ấy gặp Vũ Hà Văn một vài lần rồi khuyên anh chuyển sang học toán lý thuyết.
Sau một thời gian suy nghĩ, Vũ Hà Văn quyết định chuyển sang học Khoa Toán ĐH Tổng hợp Eotvos Lorand. “Hồi đó du học sinh Việt Nam ở Đông u có hai con đường: hoặc đi buôn, hoặc học hành chỉn chu. Nhu cầu về vật chất của tôi đơn giản lắm, học bổng nhà nước cấp đối với tôi là đủ, vì thế tôi không quan tâm chuyện đi buôn. Mối bận tâm của tôi lúc đó là được làm việc mình thích”, Vũ Hà Văn cho biết.
“Lấy người mình yêu và… không bỏ được”
Theo Vũ Hà Văn, muốn học khoa học cơ bản, người ta cần một chút mơ mộng. “Bản thân khoa học cơ bản rất khô khan, vì thế người học phải đam mê, có thế nó mới quyện vào mình và thành vật thể sống”, Vũ Hà Văn nói. Quả là tâm hồn Vũ Hà Văn phải lãng mạn thì mới dấn thân vào ngành toán khi mà thời điểm đó anh chưa nhìn thấy triển vọng sáng sủa nào cho tương lai cuộc đời mình. Nhưng rồi Vũ Hà Văn dần dần có được sự tự tin khi mà liên tục lọt vào nhóm đầu lớp, giữa những sinh viên Hungari vốn nổi tiếng là giỏi toán và thông minh. Cú hích quan trọng trong sự nghiệp làm toán của anh là chuyến đi dự hội thảo ở trường ĐH Cornell - Mỹ khi anh đang là sinh viên năm 4. Lần đầu tiên được dự một hội thảo khoa học quốc tế khiến Vũ Hà Văn phấn chấn. Anh bắt đầu cảm nhận được hơi thở của đời sống giới nghiên cứu và muốn thưởng thức đời sống đó.
Tốt nghiệp ĐH Eotvos, Vũ Hà Văn sang Mỹ làm tiến sĩ tại ĐH Yale rồi ở lại làm việc trong các viện nghiên cứu, các trường ĐH lớn của Mỹ. Cộng đồng toán học thế giới đã ghi nhận anh bằng nhiều giải thưởng, hoặc vị trí quan trọng. Năm 2002 anh được giải thưởng Sloan. Năm 2003 đoạt giải thưởng NSF Career Award dành cho các nhà toán học trẻ tuổi tại Mỹ. Năm 2007 làm chủ nhiệm chương trình “Số học tổ hợp” của Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton. Năm 2008 đoạt giải thưởng Polya cuả Hội Toán học ứng dụng Mỹ, trao 2 năm một lần. Năm 2012 anh đoạt giải thưởng Fulkerson - giải thưởng dành cho các công trình xuất sắc trong lĩnh vực toán học rời rạc, do Hội Toán tối ưu thế giới và Hội Toán học Mỹ trao tặng 3 năm một lần, bắt đầu từ năm 1979. Giới toán học Việt Nam, ngoài GS Ngô Bảo Châu với giải thưởng Fields danh giá bậc nhất, được cộng đồng toán quốc tế ghi nhận ở tầm cỡ như giải thưởng Polya hay Fulkerson đến giờ cũng mới chỉ có Vũ Hà Văn.
Tiếp xúc với Vũ Hà Văn, cảm nhận chung là anh rất dí dỏm, luôn vui vẻ dù rất kiệm lời như đa số nhà toán học. “Đi Tây” từ năm 17 tuổi rồi ở miết bên đó nhưng anh vẫn có phong thái của một công dân Hà Nội “xịn”. Anh vẫn đi lại trong thành phố bằng xe máy, thỉnh thoảng mới gọi taxi nếu trời nắng quá. Có lẽ vì thế mà anh có điều kiện quan sát, nắm bắt được nhiều thực tế sôi động của thành phố nhộn nhạo bậc nhất thế giới này qua những lần về nước ngắn ngủi. Những thực tế đó đã được phả vào blog của anh, qua giọng văn hài hước, dù anh viết blog chủ yếu để giới thiệu kiến thức toán.
Có lần Vũ Hà Văn giới thiệu với bạn đọc một công trình nghiên cứu được giải Nobel kinh tế 2012 mà trong đó sử dụng toán ứng dụng. Tên bài toán “Stable Marriage”, nghĩa là “Hôn nhân bền vững” nhưng được Vũ Hà Văn “dịch” thành “Lấy người mình yêu và… không bỏ được”.
Ở một bài khác, để giới thiệu định lý Birkhoff, Vũ Hà Văn dẫn nhập: “Khi bé, bạn đi nhà trẻ. Lớn lên, bạn phải lấy vợ. Kiểu gì cũng không tránh được, trừ các vĩ nhân”. Rồi anh so sánh chuyện hôn nhân xưa với nay và đặt ra một thách thức “thời đại”: Phải lấy người mình yêu, chà! “Trớ trêu, người bạn yêu (như Angelina Jolie) thì vô số bạn yêu. Thế mới cáu!”. Dù chẳng biết gì về toán, bạn đọc cũng có thể hiểu rằng để không phải đấu kiếm với ai đó nhằm giành giật mỹ nhân duy nhất thì không nên tuyệt đối hóa vấn đề mà cần (điều kiện đủ) mở rộng danh sách người mình muốn lấy. Với cách này, rốt cục ai cũng sẽ lấy được người mình yêu (ai cũng thấy hài lòng) và toán học đã chứng minh được điều đó. Nhiều bạn đọc blog của Vũ Hà Văn thốt lên: Toán khô khan vậy mà sao anh viết duyên thế, vui thế!.
Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Lịch sử con số Pi

Câu Lạc Bộ Toán Dự Bị Việt Trì     23:59    

Những con số lẻ của số Pi quyến rũ

Con số PI quyến rũ


  • Số Pi là tên của chữ thứ  16 của mẫu tự Hy lạp. Nó được định nghĩa như một hằng số , là tỷ số giữa chu vi vòng tròn và đường kính của nó.
  • Tên pi  do chữ peripheria (perijeriacó nghĩa là  chu vi của vòng tròn.
  • Nhưng nó  không  có tên chính xác, thường người ta  gọi là  p, c, hay p
  •  Chữ  p được dùng  vào khoảng  giữa thế kỷ thứ 18, sau khi Euler xuất bản cuốn chuyên luận phân tích năm 1748. Ý định dùng ký hiệu  p là để tưởng nhớ đến những nhà Toán học Hy Lạp là những người tìm ra đầu tiên con số gần đúng của  pi
  • Cuối thế kỷ thứ 20 số Pi đã tính với độ chính xác tơi con số thứ 200 tỉ (200 000 000 000)
  • 11 tháng  9 năm  2000: con số lẻ thứ một triệu tỉ là số không (1.000.000.000.000.000)
     
Con số Pi tóm tắt một lịch sử về toán học cổ xưa hơn 4000 năm bao trùm Hình học phân tích hay Ðại số.

Các nhà Toán học đã hâm mộ nó từ thời Văn minh Cổ-đại và đặc biệt những người Hy Lạp trong vấn đề hình học.

Tri giá xưa nhất về con số Pi mà con người đã dùng và đã được chứng nhận từ một tấm bảng của người Babylone cổ xưa (thuộc xứ I răc) có chữ hình góc (écriture cunéiforme), được khám phá năm 1936 và tuổi của tấm bảng là 2000 năm trước Thiên Chúa.

Người Ba-bi-lôn tính được con số Pi bằng cách so sánh chu vi của một vòng tròn với đa giác nội tiếp trong vòng tròn đó, bằng 3 lần đường kính vòng tròn. Họ tính phỏng chừng: Pi = 3 + 1/8 (tức là 3,125)

Về sau, những công trình nghiên cứu liên tục:

* Archimède tính được số Pi = 3,142 với độ chính xác là 1/1000. Công thức là: 3 + 10/71 < Pi < 3 + 1/7

Người ta dùng phương pháp Archimède trong 2000 năm.

* Trong Thánh Kinh, khoảng 550 trước TC, đã giấu con số này trong một câu văn mà sau bao nhiêu bộ óc tò mò tìm kiếm mới ra con số Pi = 3,141509

* Khoảng năm 1450, Al'Kashi tính con số Pi với 14 con số lẻ nhờ phương pháp đa giác của Archimède

Ðó là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã tìm được con số Pi với trên 10 số lẻ.

* Năm 1609 Ludolph von Ceulen nhờ phương pháp của Archimède, đã tính được con số Pi với 34 số lẻ mà người ta đã khắc số này trên mộ bia của ông.

* Kế tiếp Ludolph von Ceulen nhờ những công trình nghiên cứu miệt mài của các nhà Toán học:

Newton(1643-1727)

Leibniz(1646-1716)

Grégory (1638-1675)

Euler(1707-1783)

Johann Heinrich Lambert (1728-1777)

Adrien-Marie Legendre (1752-1833)

Carl Louis Ferdinand von Lindemann (1852-1939)

Srinivasa Aiyangar Ramanujan (1887-1920)

Williams Shanks (1812-1882) đã tính năm 1874 với 707 số lẻ

 Phải đợi đến thế kỷ thứ 18 và đầu thế kỷ thứ 20 thì số Pi đã được tính với độ chính xác là 1000 số lẻ.
Ngày 19 tháng 9 năm 1995 lúc 0 giớ 29 phút giờ địa phương GMT-04, nhà Toán học Gia Nã Ðại Simon Plouffe đã khám phá cùng với sự hợp tác của Peter Borwein và David Bailey một công thức tính con số Pi đã làm đảo lộn một số ý kiến về số Pi được tính từ trước đến nay.

Công thức này được đặt tên là Công thức BBP cho phép tính các số lẻ của Pi độc lập với nhau, mà mọi người lúc bấy giờ tưởng là không thể tính các số lẻ một cách độc lập được.


 Fabrice Bellard tìm ra hôm thứ hai ngày 22 tháng 9 năm 1997 đã chiếm kỷ lục kiếm tới số lẻ thứ một ngàn tỉ cho con số Pi nhờ công thức BBP của Plouffe và nhờ tự nghiên cứu ra cách tính nhanh hơn.

Kỷ lục hiện tại do Colin Percival đạt đến số lẻ thứ bốn mươi ngàn tỉ hôm thứ ba tháng 2 năm 1999 bằng cách dùng công thức của Bellard
11 tháng  9 năm  2000: con số lẻ thứ một triệu tỉ là số không (zero): (một triệu tỉ =1.000.000.000.000.000

About us

Câu Lạc Bộ Toán Trường Dự Bị Đại Học Dân Tộc Trung Ương - Việt Trì - Phú Thọ Email: math.edu.dbvt@gmail.com Fanpage Facebook: Câu Lạc Bộ Toán DBVT.